Rss Feed Facebook Twitter Google Plus

post:


Thứ Sáu, 12 tháng 11, 2010

TÁC HẠI CỦA TÚI GIÂÝ



In túi giấy
   Đừng tưởng chỉ có túi nylon mới gây hại cho Trái Đất nhé! 
Chúng ta thường xuyên được nghe về tác hại của túi nylon đối với môi trường và thậm chí nhiều siêu thị lớn đã chuyển sang dùng túi giấy để gói hàng cho khách. Nhưng nếu đặt 2 loại túi này lên bàn cân, loại nào sẽ “thân thiện” với môi trường hơn?
Tác hại của túi giấy là những điều mà ít người biết tới.

Cũng gây ô nhiễm đấy nhé 
Việc sản xuất giấy khiến không khí bị ô nhiễm nhiều hơn so với sản xuất túi nylon khoảng 70%. Theo những nghiên cứu đáng tin cậy, quá trình sản xuất giấy thải ra nhiều hơn sản xuất túi nylon 80% khí nhà kính. Ngoài ra, để làm giấy, người ta phải đốn cây và điều đó cũng làm tăng lượng khí CO2 trong khí quyển. Cuối cùng, làm giấy còn tạo ra lượng nước thải công nghiệp lớn gấp 50 lần khi làm túi nylon.

làm túi giấy


Hao tốn năng lượng khi sản xuất 

Dù người ta dùng dầu lửa để làm nhựa và từ đó chế ra túi nylon nhưng thực chất việc sản xuất giấy lại hao năng lượng gấp 4 lần so với làm túi nylon.

Hao tốn nước
Nước là tài nguyên rất quý và việc chế tạo túi giấy tốn nước gấp 3 lần so với túi nylon cần phải được cân nhắc kỹ.

Tái chế kém hiệu quả
Người ta có thể tái chế giấy nhưng việc này còn tốn nguyên liệu hơn là làm mới. Để so sánh, phải tốn thêm 91% năng lượng để tái chế giấy so với tái chế nhựa.

Tạo ra chất thải
Theo một số nghiên cứu, túi giấy tạo ra số chất thải rắn nhiều hơn túi nhựa đến 80%. Ngoài ra, túi giấy cũng không hề dễ dàng tự tiêu khi nằm dưới đất như người ta vẫn tưởng.
Nhưng tất nhiên túi nylon cũng chẳng vô can với môi trường đâu nhé.
Làm xấu cảnh quan
túi nilon ô nhiễm môi trường

Hình ảnh túi nylon bay lung tung khắp nơi, mắc vào cây cối hay hàng rào quả là chướng mắt và đáng buồn khi đây là thực tế ở rất rất nhiều nơi.

Đem lại hiểm nguy với đời sống tự nhiên 
in túi giấy thay thế túi nilon
Rùa biển là một trong nhiều sinh vật biển lầm tưởng túi nylon là thức ăn
Nhiều loài động vật tự nhiên nhầm túi nylon là thức ăn và điều đó cực kỳ nguy hiểm. Đặc biệt là ở các khu vực gần biển, túi nylon dễ dàng khiến các sinh vật dưới nước và các loài chim biển mắc lừa.

Lâu phân hủy
Nhiều nghiên cứu nói rằng phải mất tới 500, thậm chí 1000 năm để túi nylon tự phân rã hết. Nhưng chúng cũng chỉ mới được phát minh và chưa ai kiểm chứng được điều này.

Khó khăn khi tái chế 
Dù tái chế túi nylon tốn ít năng lượng hơn túi giấy nhưng nó lại có nhiều rắc rối hơn. Một việc rất nhỏ là túi nhựa dễ khiến các bộ phận máy móc thu gom rác bị mắc cũng làm người ta bực mình.

Hiện tại, một số tổ chức môi trường đã không còn coi việc sử dụng túi nylon là mối đe dọa lớn nữa. Còn bạn, dù dùng bất cứ loại giấy gói hay túi nào, hãy nhớ tới các tác hại của chúng để dùng một cách hợp lý nhé.

CÔNG TY IN ẤN TÂM VIỆT
Đ/c: Ngõ 80, Tu Hoàng, Xuân Phương, Nam Từ Liêm, Hà Nội
Điện thoại: 04 6684 6848 - 0167 55 33 989
Skype: inchuyennghiep247
Email: inchuyennghiep247@gmail.com

Read more

Thứ Tư, 10 tháng 11, 2010

MÁY IN OFFSET


máy in offset 1 màu

Mời các bạn tìm hiểu về kỹ thuật in offset. In offset là một kỹ thuật in ấn trong đó, các hình ảnh dính mực in được ép lên các tấm cao su (còn  gọi là các tấm offset) trước rồi mới ép từ miếng cao su này lên giấy.  Khi sử dụng với in thạch bản, kỹ thuật này tránh được việc làm nước bị  dính lên giấy theo mực in offset



Ưu điểm của kỹ thuật in offset:

- Chất lượng hình ảnh cao, rõ nét và sạch hơn in trực tiếp từ bản in lên giấy vì miếng cao su áp đều lên bề mặt giấy cần in.
- Khả năng ứng dụng in ấn lên nhiều bề mặt, kể cả bề mặt không phẳng (như gỗ, vải, kim loại, da, giấy thô nhám). - Việc chế bản dễ dàng hơn.- Các bản in offset có tuổi thọ lâu hơn, vì không phải trực tiếp tiếp xúc với bề mặt cần in.
máy in offset 4 màu


In offset ngày nay đã trở thành kỹ thuật in phổ biến nhất trong in ấn  thương mại. Tuy vậy trong các in ấn dành cho thú vui cá nhân, người ta  vẫn có thể tạo ra một số ít sách với chất lượng cao, sử dụng cách in  trực tiếp. Một số người vẫn thích các đường nét chìm nổi để lại trên  giấy từ việc in trực tiếp. Thậm chí một số sách kiểu này còn được in  bằng các bản in được xếp từ các con chữ chì, đây là công nghệ in typo,  một công nghệ khá cổ.  Máy in dùng kỹ thuật offset và thạch bản đầu tiên  ra đời ở Anh khoảng năm 1875 và đã được thiết kế để in lên kim loại.  Trống offset làm bằng giấy các tông truyền hình ảnh cần in từ bản in  thạch bản sang bề mặt kim loại. Khoảng 5 năm sau, giấy các tông được  thay bằng cao su.     



Người đầu tiên áp dụng kỹ thuật in offset cho in ấn trên giấy có thể là  Ira Washington Rubel năm 1903. Ông đã tình cờ nhận thấy mỗi khi một tờ  giấy không được đưa vào máy in thạch bản của ông một cách đúng nhịp, bản  in thạch bản in lên trống in được bọc bằng cao su, và tờ giấy cho vào  tiếp theo bị dính 2 hình: bản in thạch bản ở mặt trên và bản in do dính  từ trống in ở mặt dưới. Rubel cũng nhận thấy hình ảnh in từ trống in cao  su nét và sạch hơn vì miếng cao su mềm áp đều lên giấy hơn là bản in  bằng đá cứng. Ông đã quyết định in thông qua các tấm bằng cao su. Độc  lập với Rubel, hai anh em Charless Harriss và Alberts Harriss cũng đã  phát hiện ra điều này và chế tạo máy in offset cho Công ty In ấn offset  Tự động Harriss.          



Các thiết kế của Harris, phát triển từ máy in gồm các trống quay, rất  giống hình vẽ trong bài. Nó gồm một trống bản in tiếp xúc chặt với các  cuộn mực in và nước. Một trống cao su tiếp xúc ngay bên dưới trống xếp  chữ. Trống in ở bên dưới có nhiệm vụ ấn chặt tờ giấy vào trống cao su để  truyền hình ảnh. Ngày nay, cơ chế cơ bản này vẫn được dùng, nhưng nhiều  cải tiến đã được thực hiện, như thêm in hai mặt hay nạp giấy bằng cuộn  giấy (thay vì các miếng giấy).     



Trong những năm 1950, in offset trở thành kỹ thuật in phổ biến nhất cho  in ấn thương mại, sau khi nhiều cải tiến đã được thực hiện cho bản xếp  chữ, mực in và giấy, tối ưu hóa tốc độ in và tuổi thọ các bản xếp chữ.  Ngày nay, đa số in ấn, gồm cả in báo chí, sử dụng kỹ thuật in offset  này.



Nguyên lý cơ bản in offset

nguyên lý in offset
Máy in offset - cấu tạo chung

In offset là phương pháp in phẳng, các thông tin  hình ảnh được thể hiện trên bản in có tính quang hoá để tạo ra các phần  tử in bắt mực và phần tử không in thì bắt nước. Ngoài ra hình ảnh trên  khuôn in phải là hình ảnh thuận, tức là cùng phương với tờ in sẽ được in  ra.


Cấu tạo máy in offset:

Một  máy in offset tờ rời gồm có các bộ phận chủ yếu như: một bộ phận cung  cấp giấy, một hay nhiều đơn vị in, các thiết bị trung chuyển để đưa giấy  qua máy in, một bộ phận ra giấy và các bộ phận bổ trợ thêm như bàn điểu  khiển máy in.


Thông thường một đơn vị in trong máy in offset tờ rời có ba trục chính cùng hệ thống làm ẩm và hệ thống chà mực lên khuôn in.

Ống bản máy in offset: là một trục ống bằng kim loại, trên khuôn in phần tử in bắt mực còn phần tử không in bắt nước.
Ống cao su: là môt trục ống mang tấm cao su offset, có cấu tạo gồm một  lớp vải bọc với cao su tổng hợp để truyền hình ảnh từ khuôn in lên bề  mặt vật liệu in.
Ống ép: là một trục khi quay luôn tiếp xúc với ống cao su, làm nhiệm vụ  chuyển giấy và các vật liệu in khác. Hệ thống làm ẩm: là hệ thống các lô  làm ẩm bằng dung dịch làm ẩm có chứa các chất phụ gia như: axit, gôm  arabic, cồn isopropyl hay các tác nhân làm ẩm khác.
máy in offset 1 màu
Máy in offset một màu

Hệ thống cấp mực máy in offset: 
Đó  là hệ thống các lô chà mực cho bản in. Các thành phần quan trọng khác.  Ngoài các đơn vị in ra, trong máy in offset một màu hay nhiều màu còn  bao gồm các bộ phận sau.


Bộ phận nạp giấy máy in offset:

Chúng làm nhiệm vụ hút giấy và các vật liệu in khác từ bàn cung cấp giấy lên và đưa xuống đơn vị in đầu tiên.


Các bộ phận trung chuyển(thông thường là các trục ống có nhíp kẹp giấy): 

có khả năng vận chuyển giấy đi qua máy in.


Bộ phận ra giấy máy in offset: 

là bộ phận nhận giấy ra và vỗ giấy đều thành cây giấy trên bàn ra giấy.


Hệ thống làm ẩm máy in offset:

Hệ thống làm ẩm trong in offset tờ rời cung cấp dung dịch làm ẩm gốc  nước, hoặc dung dịch máng nước lên bề mặt khuôn in trước khi nó được chà  mực. Dung dịch làm ẩm giữ cho phần tử không in trên khuôn được ẩm ướt  do đó nó không bắt mực. Nó được chà lên toàn bộ bản in.


Tuy nhiên, các phần tử không in bắt nước và đẩy mực trên khuôn, chúng  được tạo ra theo cách hút bám một lớp mỏng gôm arabic trong quá trình  chế tạo khuôn in, đó là hydrophilic, hay chất ưa nước, trong khi các  phần tử in là hydropho­bic, hay chất có khuynh hướng đẩy nước. Thực ra  nước bản thân nó có thể được sử dụng để làm ẩm bản. Một vài máy in  offset tờ rời có thể chọn sử dụng một mình nước để in các ấn phẩm số  lượng ít. Tuy nhiên, lớp đẩy mực này dần dần lột ra khỏi khi khuôn in  tiếp tục sử dụng trên máy. Các hoá chất trong dung dịch làm ẩm bổ sung  thêm độ đẩy mực cho lớp này.

hệ thống truyền mực
Máy in offset - hệ thống truyền mực


Hệ thống truyền mực offset:

Hệ thống cung cấp mực in trong máy in offset tờ rời có 4 chức  năng cơ bản sau: 1. Dẫn mực từ lô máng mực đến khuông in. 2. Tách lớp  mực dày ra thành lớp mực mỏng đồng đều trên các lô truyền. 3. Chà mực  lên các phần tử in trên bản. 4. Loại bỏ mực in tái lập trên lô chà từ  các công việc in trước đó.
máy in offset 6 màu
Máy in offset 6 màu


Máng mực in offset:

chứa mực in cần cung cấp trong quá trình in.  Lô chấm: là một lô chuyền luân phiên tiếp xúc giữa lô máng mực và lô đầu  tiên của hệ thống cấp mực, thông thường là lô tán trong hệ thống cấp  mực. Lô tán và lô sàn: là các lô chuyển động ăn khớp bằng bánh răng và  dây sên không chỉ quay tròn được mà còn chuyển động qua lại theo phương  ngang với trục ống từ trái qua phải Máng mực, hai thành bên hông máng  mực, dao gạt và lô máng mực và làm nhiệm vụ chà dàn mỏng lớp mực in lên  các lô và xoá các lớp mực in trước đó trên lô chà. Các lô trung gian: là  các lô chuyển động được dựa vào sự tiếp xúc với các lô chuyển động khác  có nối kết với bộ phận truyền chuyển động, các lô trung gian nằm ở giữa  lô chuyền và lô chà, làm nhiệm vụ và định lượng mực cấp cho quá trình  in; thường được gọi là lô định lượng – khi chúng tiếp xúc với hai lô  khác hoặc được gọi là lô dằn – khi chúng chà tiếp xúc với một lô khác;  ví dụ như lô tán. Các lô chà bản in: gồm 3-4 lô chà bản thường có đường  kính khác nhau, tiếp xúc và chà mực lên bản in.





Máy in offset và những điều thú vị

CHẤT LƯỢNG IN OFFSET VÀ TIÊU CHUẨN HÓA THỨ TỰ IN CHỒNG MÀU
kiểm tra màu in
may in offset - kiem tra mau

Tiêu chuẩn quan trọng nhất để đánh giá chất lượng (tờ) in offset đó là tờ in ra phải giống mẫu (hoặc tờ in thử) về màu sắc và các tờ in phải đều màu (không dao động màu) trong toàn bộ sản lượng in.


Trong thực tế khách hàng thường phàn nàn là sản phẩm in ra không giống màu mẫu và các tờ in không đều.



Những yếu tố quan trọng nhất trong quá trình in ảnh hưởng đến màu sắc tờ in (và do đó đến chất lượng in) đó là:



· Độ dày lớp mực trên giấy (tỉ lệ với Mật độ tông nguyên DV khi đo bằng Mật độ kế)



· Độ lớn điểm tram và độ chồng mực (gắn chặt với thứ tự in chồng màu).

ốc chồng màu
may in offset - ốc chồng màu

Để đánh giá ảnh hưởng của những yếu tố này, bên cạnh việc quan sát bằng mắt, người ta phải sử dụng dụng cụ đo để có sự đáng giá khách quan, loại bỏ ảo giác chủ quan. Dụng cụ thông dụng nhất là Mật độ kế.


Trong phạm vi viết bài này, xin chỉ đề cập đến yếu tố thứ 3 là vấn đề Thứ tự in chồng màu, ảnh hưởng của nó đến chất lượng in, đang là vấn đề nhiều bạn quan tâm.



Thứ tự in chồng màu ảnh hưởng đến độ nhận mực và do vậy ảnh hưởng đến màu in ra. Có sự khác biệt khi in một màu lên giấy trắng, in màu đó lên một lớp mực in trước đã khổ, hoặc in 2 hay 4 màu in ướt - chồng – ướt. Khi in ướt - chồng – khô (tức là in nhiều màu trên một máy một màu) và ướt - chồng – ướt, độ nhận mực có độ khác biệt ảnh hưởng đến kết quả in, đặt biệc đôi với ướt - chồng – ướt thì độ tách dính (tack) của mực in có vai trò rất quan trọng, nó phài giảm dần từ đơn vị đầu đến đơn vị cuối.



Phụ thuộc tính chất công việc in, lọai máy offset (một hay nhiều màu, tức là in ướt - chồng – khô, ướt - chồng - ướt) và hiệu quả màu sắc cần có mà thay đổi thứ tự chồng màu. Nếu công việc đã được in thử , cần phải giờ đúng thứ tự khi in thử.

mực in offset
May in offset - mực in

ở các nước có đến công nghiệp in phát triển, người ta đã đề ra biện pháp Tiêu chuẩn hóa, để loại những ảnh hưởng của thứ tự in chồng màu đến kết quả in. Quá trình in thử và in sản lượng được thực hiện theo một tiêu chuẩn qui định. Một thứ tự in chồng màu thống nhất ở tất cả các xí nghiệp in cho phép so sánh được chất lượng in ở các xí nghiệp khác nhau, đồng thời có thể đặt sản xuất mực có độ tách dính giảm dần theo tiêu chuẩn chồng màu tiêu chuẩn, tạo thuận lợi cho người thợ in.


Thứ tự in chồng màu in offset tiêu chuẩn được sử dụng phố biến ở các nước Châu âu là:



· In 4 màu ướt - chồng – ướt (máy nhiều màu)



Đen – Xanh - Đỏ magenta – Vàng.



· In 2 màu ướt - chồng – ướt và ướt - chồng – khô:



Xanh cyan - Đỏ magenta -> Đen - Vàng



· In 1 màu ướt - chồng – khô:



Xanh cyan -> Đỏ magenta -> Vàng -> Đen.



Máy in offset ở nước ta hiện nay, điều kiện sản xuất ở các xí nghiệp in cò nhiều khác biệt, đặt biệt là chúng ta sử dụng nhiều loại mực in nhập từ nhiều nước khác nhau đến chưa thể có tiêu chuẩn quốc gia thống nhất. Hậu quả của việc đánh giá chất lượng in phụ thuộc chủ quan của người thợ, mỗi xí nghiệp và việc tranh cãi là tất nhiên, đặc biệt là về ảnh hưởng đến kết quả in của thứ tự in chồng màu.

các màu cơ bản in offset
Máy in offset - các màu cơ bản

Tuy nhiên máy in offset, trong điều kiện hiện nay trước khi có tiêu chuẩn quốc gia thống nhất, chúng ta có thể thực hiện tiêu chuẩn hóa Thứ tự in chồng màu ở từng xí nghiệp (thuận tiện nhất có lẽ đến sử dụng Thứ tự in chồng màu tiêu chuẩn mà các nước công nghiệp in tiên tiến đang áp dụng, trước khi chúng ta nghiên cứu tìm ra tiêu chuẩn phù hợp cho mình), trao đổi với các Công ty vật tư in để đặt mua mực in tiêu chuẩn có các tính chất, đặc biệt là tính tách dính phù hợp với Thứ tự in chồng màu tiêu chuẩn của xí nghiệp. Làm được điều này chúng ta loại bỏ được một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng in để ổn định các yếu tố khác.


Tiêu chuẩn hóa phương pháp in offset là xu thể tất yếu, vì chỉ có như vậy chúng ta mới ổn định được chất lượng in. Các biện pháp tiêu chuẩn hóa ở các công đọan bình phim, phơi bản, in thử và in sản lượng tạo thuận lợi phối hợp các khâu, loại bỏ tối đa từ đầu các sơ sót để có chất lượng in cao ổn định. Ngay từ bây giờ chúng ta cần chuẩn bị các điều kiện để có thể tiến tới tiêu chuẩn hóa phương pháp in offset, trước hết là nâng cao trình độ hiểu biết về chất lượng, quản lý chất lượng và sử dụng kỹ thuật đo trong ngành in.


CÔNG TY IN ẤN TÂM VIỆT
Đ/c: Ngõ 80, Tu Hoàng, Xuân Phương, Nam Từ Liêm, Hà Nội
Điện thoại: 04 6684 6848 - 0167 55 33 989
Skype: inchuyennghiep247
Email: inchuyennghiep247@gmail.com

Read more

Thứ Ba, 2 tháng 11, 2010

LỊCH SỬ IN OFFSET


    Máy in dùng kỹ thuật offset và thạch bản đầu tiên ra đời ở Anh khoảng năm 1875 và đã được thiết kế để in lên kim loại. Trống offset làm bằng giấy các tông truyền hình ảnh cần in từ bản in thạch bản sang bề mặt kim loại.
Khoảng 5 năm sau, giấy các tông được thay bằng cao su.

    Người đầu tiên áp dụng kỹ thuật in offset cho in ấn trên giấy có thể là Ira Washington Rubel năm 1903. Ông đã tình cờ nhận thấy mỗi khi một tờ giấy không được đưa vào máy in thạch bản của ông một cách đúng nhịp, bản in thạch bản in lên trống in được bọc bằng cao su, và tờ giấy cho vào tiếp theo bị dính 2 hình: bản in thạch bản ở mặt trên và bản in do dính từ trống in ở mặt dưới. Rubel cũng nhận thấy hình ảnh in từ trống in cao su nét và sạch hơn vì miếng cao su mềm áp đều lên giấy hơn là bản in bằng đá cứng. Ông đã quyết định in thông qua các tấm bằng cao su. Độc lập với Rubel, hai anh em Charles Harris và Albert Harris cũng đã phát hiện ra điều này và chế tạo máy in offset cho Công ty In ấn Tự động Harris.


     Các thiết kế của Harris, phát triển từ máy in gồm các trống quay, rất giống hình vẽ trong bài. Nó gồm một trống bản in tiếp xúc chặt với các cuộn mực in và nước. Một trống cao su tiếp xúc ngay bên dưới trống xếp chữ. Trống in ở bên dưới có nhiệm vụ ấn chặt tờ giấy vào trống cao su để truyền hình ảnh. Ngày nay, cơ chế cơ bản này vẫn được dùng, nhưng nhiều cải tiến đã được thực hiện, như thêm in hai mặt hay nạp giấy bằng cuộn giấy (thay vì các miếng giấy).


     Trong những năm 1950, in offset trở thành kỹ thuật in phổ biến nhất cho in ấnthương mại, sau khi nhiều cải tiến đã được thực hiện cho bản xếp chữ, mực in và giấy, tối ưu hóa tốc độ in và tuổi thọ các bản xếp chữ. Ngày nay, đa số in ấn, gồm cả in báo chí, in catalogue sử dụng kỹ thuật này.


CÔNG TY IN ẤN TÂM VIỆT
Đ/c: Ngõ 80, Tu Hoàng, Xuân Phương, Nam Từ Liêm, Hà Nội
Điện thoại: 04 6684 6848 - 0167 55 33 989
Skype: inchuyennghiep247
Email: inchuyennghiep247@gmail.com

Read more

Thứ Năm, 7 tháng 10, 2010

LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA THẺ NHỰA

   
Vào đầu những năm 1950, nhờ vật liệu tổng hợp PVC giá rẻ, người ta đã sản xuất hàng loạt thẻ nhựa phù hợp cho việc sử dụng hàng ngày thay cho việc dùng thẻ bằng giấy trước đây.
Thẻ thanh toán bằng nhựa đầu tiên được phát hành bởi “Diner Clubs” vào năm 1950, dự định phát hành cho một tầng lớp riêng biệt cho phép người mang thẻ có thể ghi nợ tại một số nhà hàng và khu giải trí. Thời gian đầu chỉ có một số nhà hàng và khách sạn chấp nhận những thẻ này.


    Thoạt đầu chức năng của những thẻ này khá đơn giản. Đó là phương tiện lưu trữ dữ liệu được bảo vệ nhằm tránh giả mạo và sửa đổi. Thông tin chung như tên nhà phát hành thẻ được in ấn trên bề mặt thẻ trong khi những thông tin cá nhân như tên của chủ thẻ và số thẻ thì được dập nổi. Nhiều thẻ có thêm chỗ ký tên để chủ thẻ ký tên dành cho tham khảo. Trong thế hệ thẻ phát hành đầu tiên này, việc bảo vệ chống lại sự giả mạo dựa trên những đặc điểm trực quan như phần in trên thẻ và phần ký tên. Vì thế sự an toàn của hệ thống phụ thuộc khá nhiều sự tỉnh táo của người chịu trách nhiệm chấp nhận thẻ. Sau này việc dùng thẻ phát triển tăng vọt nên những đặc điểm trực quan này không còn hiệu quả, đặc biệt là các mối đe dọa từ các tổ chức tội phạm đang phát triển nhanh.



    Tiến bộ đầu tiên của thẻ nhựa là dùng dải từ trên mặt sau của thẻ, cho phép dữ liệu số được lưu trữ trên thẻ dưới dạng máy có thể đọc được để hỗ trợ thêm vào thông tin trực quan. Điều này làm giảm khả năng dùng biên nhận giấy, mặc dù chữ ký khách hàng vẫn được yêu cầu trên ứng dụng thẻ tín dụng truyền thống như là một hình thức định danh người dùng. Tuy nhiên, người ta cũng đưa ra một cách tiếp cận mới không yêu cầu biên nhận giấy, dẫn tới khả năng đạt được một mục đích lâu dài là thay thế giao dịch dựa trên giấy bằng xử lý dữ liệu điện tử. Vì vậy cần thiết phải có một phương pháp khác được sử dụng để xác thực định danh người dùng. Phương pháp được sử dụng rộng rãi liên quan đến một con số định danh cá nhân bí mật, hay còn gọi là số PIN (personal identification number). Những thẻ dập nổi với dải từ vẫn còn là loại thẻ được sử dụng thông thường cho các giao dịch tài chính đến thời điểm hiện nay.



    Tuy nhiên, công nghệ từ có một điểm yếu quan trọng là dữ liệu lưu trữ trên dải từ có thể bị đọc, xóa và thay đổi bởi bất cứ người nào với thiết bị cần thiết. Vì thế không thích hợp cho việc lưu trữ dữ liệu bí mật.



    Thế hệ thẻ cải tiến tiếp theo sau thẻ từ là thẻ thông minh. Sự phát triển của thẻ thông minh đi liền với sự phát triển của các hệ thống xử lý dữ liệu điện tử, dẫn đến khả năng sáng chế ra nhiều giải pháp mới. Sự phát triển to lớn của vi điện tử những năm 1970 cho phép tích hợp dữ liệu và xử lý logic trong một con chip silicon đơn có kích thước chỉ bằng một vài mili mét vuông. Ý tưởng kết hợp một mạch tích hợp vào một thẻ định danh đã được sáng chế bởi hai nhà phát minh người Đức Jurgen Dethloff và Helmut Grotrupp năm 1968. Sau đó, năm 1979 ra đời một sáng chế tương tự của Kunitaka Arimura ở Nhật Bản. Tuy nhiên sự phát triển thật sự đầu tiên của thẻ thông minh là khi Roland Moreno đăng ký sáng chế thẻ thông minh ở Pháp năm 1974. Và chỉ lúc đó công nghệ bán dẫn mới có khả năng cung cấp các mạch tích hợp cần thiết với giá chấp nhận được.



    Một bước đột phá lớn của thẻ vào năm 1984 là khi French PTT (post, telegraph and telephone) đã thành công trong việc thử nghiệm thẻ điện thoại. Trong lĩnh vực thử nghiệm này, thẻ thông minh ngay lập tức chứng minh đã đáp ứng tất cả mong đợi về tính tin cậy cao và an toàn, tiện ích trong việc sử dụng. Kết quả thẻ thông minh đã chứng minh được sự nổi trội về tính an toàn cao, ngoài ra thẻ thông minh còn có khả năng được sử dụng linh hoạt trong các ứng dụng trong tương lai. Các mạch tích hợp ban đầu được sử dụng trong thẻ điện thoại là những chip nhớ (memory chip) nhỏ, đơn giản và không đắt tiền với một security logic chuyên biệt cho phép số dư thẻ giảm xuống trong khi vẫn chống lại các thao tác bất hợp pháp. Những chip vi xử lý sau này thường lớn hơn và phức tạp hơn, lần đầu tiên được sử dụng số lớn ở các ứng dụng truyền thông, đặc biệt trong truyền thông di động. Năm 1988, bưu điện Đức đóng vai trò tiên phong trong việc giới thiệu thẻ vi xử lý hiện đại dùng công nghệ EEPROM như một thẻ chứng thực cho các mạng điện thoại di động tương tự (analog mobile). Năm 1991, tại các nước Châu Âu, thẻ thông minh được ứng dụng vào công nghệ di động GSM, thẻ SIM cho điện thoại di động ra đời, đặt nền tảng cho sự phát triển vũ bão của công nghệ di động ở hơn 170 quốc gia như hiện nay.



    Không giống như thành công rực rỡ của thẻ thông minh trong lĩnh vực truyền thông, việc áp dụng thẻ thông minh trong lĩnh vực tài chính nhằm thay thế thẻ từ gặp khó khăn do đòi hỏi về an toàn và bảo mật thông tin do đặc thù thông tin nhạy cảm của lĩnh vực tài chính. Phần cứng và phần mềm hiện đại đã cho phép thực thi các thuật toán phức tạp với nhiều cấp độ bảo mật chưa từng có trước đây. Hơn nữa, công nghệ mới này là sẵn có cho mọi người, ngược lại với trước đây bảo mật chỉ được sử dụng trong quân đội và các dịch vụ bí mật. Thẻ thông minh đã chứng minh là một phương tiện lý tưởng, có độ bảo mật cao (dựa trên mật mã học) khả dụng cho mọi người vì có thể lưu các khóa bí mật và thực thi các thụât toán mật mã an toàn. Hơn nữa, thẻ thông minh nhỏ và dễ quản lý nên có thể được mang và sử dụng khắp nơi trong cuộc sống hàng ngày. Đó là một ý kiến tự nhiên trong việc cố gắng dùng những đặc điểm bảo mật mới cho những thẻ ngân hàng, để nắm và ngăn chặn các rủi ro về bảo mật xuất hiện từ việc gia tăng dùng thẻ từ.



    Năm 1997, tất cả các tổ chức tiết kiệm Đức và nhiều ngân hàng phát hành các thẻ thông minh mới. Năm trước đó, Úc đã phát hàng thẻ thông minh đa chức năng với các chức năng POS, ví điện tử và các dịch vụ tùy chọn được thêm vào. Điều này làm Úc trở thành nước đầu tiên trên thế giới có một hệ thống ví điện tử toàn quốc.



    Một mốc quan trọng trong việc sử dụng thẻ thông minh cho việc thanh toán trên toàn thế giới trong tương lai là sự hoàn thiện của chuẩn kỹ thuật EMV. Đó là một sản phẩm kết quả của nỗ lực liên kết giữa Europay, MasterCard và Visa. Phiên bản kỹ thuật đầu tiên là vào năm 1994. Nó mô tả chi tiết của thẻ tín dụng tích hợp chip vi xử lý và đảm bảo tính tương thích lẫn nhau của thẻ thông minh sau này của 3 tố chức thẻ tín dụng lớn nhất.



    Thanh toán qua Internet đưa ra một lĩnh vực ứng dụng mới và hứa hẹn cho ví điện tử. Tuy nhiên, vấn đề an toàn trong thanh toán qua mạng Internet công cộng chưa được giải quyết một cách thoả mãn. Thẻ thông minh đóng vai trò quyết định để giải quyết bài toán này. Ngoài ra, thẻ thông minh vạch ra một vai trò quan trọng trong việc giới thiệu chữ ký điện tử. Nhiều nước ở Châu Âu đã bắt đầu giới thiệu các hệ thống ví điện tử sau khi một một cơ sở pháp lý về việc sử dụng chữ ký điện tử được phê duyệt và ban hành năm 1999.



    Tính linh động cao về chức năng của thẻ thông minh, thậm chí cho phép chương trình của những ứng dụng mới được thêm vào thẻ thông minh đang dùng đã mở ra một lĩnh lực ứng dụng hoàn toàn mới vượt xa giới hạn sử dụng thẻ truyền thống. Hiện tại, thẻ thông minh đang được sử dụng trong việc chăm sóc sức khỏe, thẻ bảo hiểm quốc gia trên nhiều nước. Ngoài ra thẻ thông minh còn được dùng như là thẻ điện tử cho việc vận chuyển trên các phương tiện giao thông công cộng trong nhiều thành phố trên thế giới



    Nguồn: Thư viện Cao học trường Đại học Công nghệ Thông tin
Read more